SAOVIETNGAYMOI.VN - "Hồn Thơ Việt Nam" xin trân trọng mời quý vị thưởng thức tác phẩm "KIẾP BẠC BẢN HÙNG CA" của thi sĩ Lê Trọng Anh
Kính dâng anh linh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn
KIẾP BẠC BẢN HÙNG CA
Đây địa linh Kiếp Bạc
Bên dòng Lục Đầu Giang
Giữa Nam Tào - Bắc Đẩu
Đền Đức Thánh hùng thiêng
Ngài tướng tài thế giới
Ngài Đức Thánh hiển linh
Người trời xuống hạ giới
Phò trợ cho dân mình
Ngài là cha đích thực
Xưa - nay - sau của dân
Trọn lòng son trung - hiếu
Của nòi giống Tiên - Rồng
Vĩ nhân khi còn sống
Vua, dân đã dựng đền
Các Minh quân - Hoàng đế
Đều cúi mình dâng hương
Lưng tựa núi Trán Rồng
Trước Cồn Kiếm giữa sông
Đền kiến trúc cổ kính
Theo Tiền Nhất - Hậu Đinh
Trước Nghi Môn uy dũng
Nhà Thành Các hai bên
Vua - Quan sửa mũ, áo
Trước khi vào lễ đền
Nhà Bạc nằm chính giữa
Két bạc chứa thoi đầy
Vua quan bao triều đại
Dành tâm - của về đây
Giếng Mắt Rồng trong vắt
Nguồn nước thiêng truyền thuyết
Tụ tinh khí trời đất
Tuôn trào suốt tháng năm
Hai dãy dài Dải Vũ
Hai hàng cây rễ buông
Những kỷ vật còn đó
Cọc Bạch Đằng kháng Nguyên
Bước vào đền Tiền Tế
Ban Công Đồng ngát hương
Trên cao bức Đại Tự
Dưới Cửa Võng - Y Môn
Giữa Dĩ Thiên Vô Cực
Tả Vạn Cổ Anh Minh
Hữu Nam Thiên Hiển Thánh
Tôn danh Đức Thánh Trần
Hậu cung tượng Đức Thánh
Linh nghiệm lời tấu bày
Ngài ban tài phát lộc
Cho Đế Vương giống nòi
Đầu thế kỷ mười ba
Giặc Mông - Cổ tung hoành
Vó ngựa khắp Âu - Á
Tang thương mầu chiến tranh
Châu Âu chiếm gần hết
Nhà Tống đã đầu hàng
Họa chiến tranh thảm khốc
Đã áp kề biên cương
Nghìn hai trăm hai tám
Nước Nam phủ Thiên Trường
Trời gửi xuống hạ giới
Một con người phi thường
Văn thông làu kinh sử
Võ binh pháp tinh tường
Tâm như mặt trời mọc
Đức của bậc Thánh Hiền
Viết binh Thư Yếu Lược
Lòng cốt ở sức dân
Truyền đi Hịch Tướng Sỹ
Trên dưới chí đồng lòng
Mấy đời vua phò trợ
Chữ hiếu là nước non
Khoan thư gây sức mạnh
Dân là gốc vững bền
Ba lần chống xâm lược
Quân Nguyên thế chẻ tre
Đối đầu là thất bại
Chọn hiểm yếu lui về
Áp dụng thuật du kích
Lấy số ít địch nhiều
Nghỉ ngơi đánh mệt mỏi
Tích lương thảo đợi thời
Tạo vườn không nhà trống
Giặc vào chỗ không người
Chủ quan sinh tự mãn
Việc quân trễ bỏ lơi
Tay khắc dòng Sát Thát
Mở hội nghị Diên Hồng
Già trẻ đồng quyết đánh
Xây sức mạnh nhân dân
Tướng tài dùng đúng chỗ
Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu
Lấy đức hiền hòa hiếu
Làm đoàn kết trong triều
Yếu tìm nơi tránh né
Dùng ly gián, mỹ nhân
Được thời thì thần tốc
Áp đảo dánh tan tành
Khơi dậy sức dân tộc
Lòng oán hận hờn căm
Khi triệu người là một
Thác lũ quét ngoại xâm
Dồn chủ công quyết chiến
Đông Bộ Đầu - Thăng Long
Lục Đầu Giang - Vạn Kiếp
Trận thủy chiến Bạch Đằng
Khi hờn căm chất chồng
Khi lòng dân đã đồng
Nắm thời cơ chắc thắng
Tiết Chế tổng tấn công
Bao chiến công chói lọi
Làm khiếp mộng xâm lăng
Trừ Phạm Nhan ma thuật
Thoát Hoan chui ống đồng
Ba lần chống xâm lược
Vua phong Tiết Chế Công
Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn
Dân tôn Đức Thánh Trần
Khải hoàn ngày chiến thắng
Về Kiếp Bạc, Chí Linh
Giữ yên miền Đông Bắc
Xa phồn hoa kinh thành
Công lao như trời biển
Không chút màng lợi danh
Người như sợi chỉ thắm
Nối triều đình - nhân dân
Ngày hai mươi tháng tám
Năm Canh Tý trời mưa
Kiếp Bạc chìm nước mắt
Trong tiếc thương rủ cờ
Bảy hai quan tài thắm
Bảy hai chiếc bình đồng
Gửi vào lòng đất mẹ
Di hài bậc Thánh Nhân
Ngài đã rời hạ giới
Lên cõi thiêng nhà trời
Để lại vầng sao sáng
Cho Vua - Dân muôn đời
Khắp mọi miền tổ quốc
Đền thờ Hưng Đạo Vương
Ngài phù hộ che chở
Từ Vua - Quan - Dân thường
Mỗi năm ngày trọng lễ
Trăm nghìn người về đây
Dâng hương lòng thành kính
Trước Đức Thánh tấu bày
Trên sông lễ Rước Thủy
Hội quân rợp cờ bay
Hai mươi vạn tướng sỹ
Sát Thát khắc cánh tay
Tiết Chế Công uy dũng
Hịch Tướng Sỹ truyền vang
Thưởng ba quân tướng sỹ
Rượi nước Lục Đầu Giang
Trong đền lễ Túc Yết
Dòng người chật như nêm
Trời đổ mưa mở cửa
Gột rửa bụi trần gian
Kiệu Rồng rước Đức Thánh
Quân sỹ xếp hàng hàng
Trong tiếng kèn tiếng trống
Ngân vang khúc khải hoàn
Đạo nội tôn Giáo Chủ
Đầu các Thánh trăm miền
Cùng phù hộ che chở
Cho Quốc thái - dân an
Người người xin Phù Ấn
Trừ tà thuật quái ma
Tấm lụa in gươm ấn
Treo trên cửa mỗi nhà
Phủi sạch lòng trần tục
Tâm thanh thoát dạ ngay
Cầu xin Ngài tài lộc
Học tâm đức của Ngài
Ghi tạc lời Đức Thánh
Xưa nay bại hay thành
Khơi nguồn tự lòng dân.
Thi sĩ Lê Trọng Anh
KIẾP BẠC TRONG THƠ
Lê Trọng Anh
Nhà thơ Lê Trọng Anh với hai tập thơ Tâm sự và Thơ tình tuổi năm mươi do Nhà xuất bản Hội nhà văn vừa ấn hành đã nổi lên trong giới và thi đàn Hải Dương như một hiện tượng văn học. Mười hai nhạc sỹ tên tuổi hàng đầu Việt Nam như: Huy Thục, Huy Du, Hoàng Vân, An Thuyên, Tân Huyền, Cát Vận, Phạm Tuyên, Thuý Nga, Đoàn Bổng, Thuận Yến, Văn Dung và Mai Đoan đã phổ nhạc mười tám bài thơ của anh. Các tác phẩm âm nhạc đã được các ca sí Trọng Tấn, Đăng Dương, Việt Hoàn, Tố Uyên, Minh Phương, Minh Huyền, Hoàng Tùng, Tiến Hỷ…biểu diễn tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội, Nhà hát lớn thành phố Hải Phòng. Được truyền hình trực tiếp trên Truyền hình quốc gia. Lê Trọng Anh nổi trội như một sự kiện văn hoá. Hoạt động nghệ thuật của anh đã làm rạng danh quê hương đất nước. Cho nên chúng ta vui mừng chào đón tác phẩm mới của anh viết về Kiếp Bạc, một địa danh lịch sử, tâm linh quan trọng của đất nước Việt Nam, một điểm nhấn nhạy cảm trong tầm ngắm của giới nghiên cứu, lý luận, phê bình Văn Học và bạn yêu thơ gần xa. Nói thực ra, giữa Kiếp Bạc và Côn Sơn, thơ hơi nghiêng về Côn Sơn, có thời Côn Sơn được chọn làm tên của Tạp chí văn nghệ của tỉnh Hải Dương. Giải thưởng Côn Sơn vẫn là giải thưởng văn học, nghệ thuật cao nhất của tỉnh Hải Dương. Cho nên bên cạnh sự mừng vui, bạn yêu thơ không thể không hồi hộp, chờ đợi và lo lắng cho tác giả như lo lắng cho đội bóng quốc gia mỗi lần chạm chán với đội bóng Thái Lan vậy.
Về Côn Sơn không nói nữa, nó vào thơ vững như bàn thạch từ thế kỷ 15 với Côn Sơn ca của Đại thi hào Nguyễn Trãi. Với Kiếp Bạc chỉ thấy mấy dòng thơ ghi trên lối ra vào của Đền Vạn Kiếp. Đó là câu thơ 5 chữ Vạn cổ thử giang san có từ thời dựng đền, tác giả sống trước thế kỷ 15 và đôi câu đối tác giả sống muộn hơn và là ai còn đang tranh cãi Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí – Lục Đầu vô thuỷ bất thu thanh, tất nhiên còn nhiều câu đối khác song không mấy nổi tiếng Trùng hưng công nghiệp lưu thanh sử - Vạn Kiếp binh thanh tố Bạch Đằng, Thiết Bạch Đằng Mộc Luỹ tiễu trừ Ô Bá – Chỉ Hoàng Việt kim qua khu tróc Nguyên Mông (chép lại của Nguyễn Đình Kế trong Duyên mùa thu Nhà xuất bản Hội nhà văn 2006). Nói thế, để thấy trong thế kỷ 20 và từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20, thơ Kiếp Bạc ít hơn rất nhiều so với nhạc Kiếp Bạc, ít và cũng không thật hay với đẳng cấp có thể bào cõi bất tử.
Ôi, Lê Trọng Anh, nhà thơ làm quen với bạn đọc yêu thơ bằng những khúc giao duyên lục bát Mắt người vẫn thủa đang yêu – Môi người gợi nhớ bao điều ước ao, những chí khí khi tỏ tình người đẹp Đừng trách anh hững hờ em nhé – Bởi chí trai như những con thuyền – Phải ra khơi dù có vào giông tố - Nếu có chìm cũng phải đáy đại dương và đắm say trong suốt bốn mùa Anh sẽ làm mùa Hạ - Nếu em là mùa Đông – Chia một chút nắng hồng – Thành mùa Xuân hoa nở, tất nhiên anh có viết thế sự, viết kỷ niệm trong quân ngũ, có viết với nhiều chiêm nghiệm chân thành như ấn tượng hùng ca nói cho công bằng đứng vào hàng hai trong thơ anh. Nay, ném cả mùa Xuân của năm Đinh Hợi, năm vàng, năm thiêng của cả thập kỷ, từ thời khắc Giao thừa sang đầu mùa ve kêu để vật lộn cho được 175 câu thơ Kiếp Bạc. Ngay nghĩa cử văn chương ấy cũng đáng ngả mũ bái phục rồi, cho nên, các bạn thơ gần gũi vùa mừng cho anh, vừa lo và có gì đó như là thương cho một tác giả thơ duyên dáng, đáng yêu tự ra cho mình một bài toán đa ẩn, cấp số vô cùng và mọi người sẵn sàng đón đọc anh như một lực sĩ văn chương vào bãi tập trước khi cho ra một kỷ lục thế vận hội.
Tôi coi 175 câu thơ Kiếp Bạc bản hùng ca như một trường ca. Trường ca mi ni này có kết cấu như Loa thành của An Dương Vương với ba vòng tròn đồng tâm khép kín. Mà tâm điểm chính là hình tượng anh hùng trung tâm Kiếp Bạc và chủ nhân vĩnh viễn của nó là anh linh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Nếu tính cả trường ca 175 câu gồm 44 khổ thì vòng loa thành ở trong cùng gồm 12 khổ là hình hài Đất uy, nhân thánh đắp trên phù điêu, dựng trên đài tượng. Nguyên những khổ đầu này đã tiêu biểu cho phong cách của cả bài giao thua giữa hiện đại và truyền thống, hiện đại ở cách nhận diện con người và mảnh đất với những đánh giá đã định hình qua 7, 8 thế kỷ, ở những nhãn quan chính trị của thời đại Hồ Chí Minh và cả thành tựu đập cũ ra mới của thời đại đổi mới. Và truyền thống chính là từ phong cách sử thi, truyền thuyết trong một tứ hai lần điệp lại trong trường ca Người trời xuống trần thế - Phò trợ cho dân mình.
Có thể nói đó là câu thơ hợp hệ - từ - trường - tâm – linh mà người đời đã nói từ lâu Đức Thánh Trần. Sau câu đó tất nhiên phải có những câu tương tư như ý điếu văn Bác Hồ của Tổng bí thư Lê Duẩn: Non sông, tổ quốc ta đã sinh ra người và người đã làm rạng rỡ Non sông, tổ quốc. Lê Trọng Anh dùng cách miêu tả ruột thịt, thân cận hơn:
Người là cha đích thực
Xưa – nay – sau của dân
Trọn lòng son trung hiếu
Của nòi giống Tiên Rồng
Trong vòng tròn đầu tiên này Kiếp Bạc được ống kính thơ đặc tả kỹ hơn, dẫu sao đây cũng vì bạn đọc mà nhà thơ phải lan man theo cảm xúc ban đầu của chính mình khi đến một vùng danh thắng được giữ gìn và tu bổ an toàn vào bậc đệ nhất thắng cảnh trong một nước biết bao lần đánh gục các cường quốc xâm lược sừng sỏ trên thế giới. Tất nhiên, đó cũng là nhu cầu tự thân của màn 1 trong một đêm diễn, đoạn Prê luýt của bản nhạc giao hưởng, phòng khai mạc của một nhà bảo tàng.
Đây địa linh Kiếp Bạc
Bên dòng Lục Đầu Giang…
…Lưng tựa núi Trán Rồng
Trước Cồn Kiếm giữa sông
Và đi vào từng mảng của đền cũng là để tôn vinh Đức Thánh, vẽ mây để nảy trăng, tả hoa xuân để ca ngợi mặt trời, lời thơ trau chuốt, nhạc thơ thâm trầm, ý thơ sâu xa, cả thiên tài của Đức Thánh, cả lòng dân bốn phương, cả lịch sử anh hùng của một dân tộc anh hùng làm viền ven và đai đế cho những đoạn thơ. Nơi toạ lạc uy nghiêm Giữa Nam Tào, Bắc Đẩu – Đền Đức Thánh hùng thiêng, nhà Thành Các, Nhà Bạc, Giếng Mắt Rồng, hai dãy Dải Vũ, Đền Tiền Tế, Ban Công Đồng, Hậu Cung. Có thể nói những bức Đại Tự được nhắc lại nguyên văn cũng là dấu ấn của muôn đời lưu viết, không cần dịch cũng là một nét thi pháp đấy:
Giữa – Dữ thiên vô cực
Tả - Vạn cổ anh linh
Hữu – Nam thiên hiển thánh
Tôn danh Đức Thánh Trần
Loa thành vòng hai rộng hơn đến 21 khổ thơ, phần này có nét chung là không mới, vì nó có nhưng dư vang triết luận quá nhiều trong thơ, mà nhà thơ Lê Quý Đôn đã nói rồi Nói kỵ thẳng, ý kỵ nông, mạch kỵ lộ, thi vị kỵ ngắn, âm vận kỵ tán hoãn. Hầu như vốn sống thế kỷ 13 bị Lê Trọng Anh coi nhẹ, cho nên nhà thơ mắc vào tứ ly trong phép làm thơ Truy thượng cao dật như li vu viễn, đấy là một bệnh tối kỵ trong diễn tả mà sách xưa đã dạy Li tịch thâm, li thư sinh, li vu viễn và li khinh phù. Tuy thế bao nhiêu cái được chính là ở phần này bằng lời thơ dễ hiểu, những bài học, kiến thức quân sự trong 3 cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông được gợi lại bằng cả hai cấp độ chiến lược và chiến thuật, mà cái hay nhất là những bài học thời chiến có thể dùng lại cho thời bình. Trước hết là đức độ của những người đứng đầu quân ngũ Văn thông làu kinh sử - Võ binh pháp tinh tường - Tâm như mặt trời mọc - Đức của bậc thánh hiền. Có tài mà không có tâm, có đức là hỏng, càng tài càng hỏng. Thơ cổ có câu Đức trọng nhân trường thọ - Tâm khoan phúc tự lai. Chúng ta đang học tập đạo đức Hồ Chí Minh, đó là dấu vết thời sự trong một áng thơ về thế kỷ 13. Bằng cách chuyển trọng tâm vào hình tượng Đức Thánh Trần trong các trận chiến lịch sử, dẫu sao đây cũng là một Loa Thành thứ hai làm Đức Thánh từ bức phù điêu vòng một sống muôn đời trong cuộc sống dân tộc Việt Nam, bốn nghìn năm không rời gươm báu, trong hòa bình, dựng xây vẫn duy trì cuộc sống chiến tranh nhân dân, xây dựng quốc phòng toàn dân. Những lời kể vắn tắt ở mức niên đại cũng mở luồng cho bạn đọc đồng sáng tạo với tác giả, đây là những đoạn thành công nhất trong phần nói rõ sức mạnh kẻ thù Châu Âu chiếm gần hết - Nhà Tống đã đầu hàng - Họa chiến tranh thảm khốc - Đã sát kề biên cương. Đoạn thơ bốn dòng này hay ở lối viết dân gian, khẩu ngữ nó gây được không khí mà không tốn lời, thoát một vòng vây từ Hán - Việt
Do tính trang trọng và gợi cổ của cả phần. Có thể nói sử dụng linh hoạt các trường từ đối địch nhau; trường từ tâm linh với trường từ xã hội, chính trị thông dụng, trường từ Hán - Việt với trường từ dân giã, khẩu ngữ càng tôn thêm các chi tiết thơ sắc nét của đời thực mà ở đây có đất để triển khai hàng loạt mô típ trường ca, có thể lấy nguồn từ dã sử, truyền thuyết Mấy đời vua phò trợ - Chữ hiếu là nước non – Khoan thư xây sức mạnh – Dân là gốc vững bền là một trong những khổ thơ hay nhất. Còn lạc sang hơi vè và diễn ca là các khổ: 20,21,26,27. Tôi thèm những đoạn giầu chi tiết nghệ thuật như Trừ Phạm Nhan ma thuật – Thoát Hoan chui ống đồng. Các khổ thơ miêu tả giai đoạn cuối đời của Đức Thánh thật cảm động. Chính ở phần cuối đoạn hai, các câu thơ trầm, buồn, chia tay âm, dương cách trở. Thơ đã đạt chuẩn Đường Thi chân chính Ngày hai mươi tháng Tám – Năm Canh Tý trời mưa – Kiếp Bạc chìm nước mắt – Trong tiếc thương rủ cờ. Rồi cảnh đưa tang kỳ vĩ, khai thác dã sử, chi tiết nghệ thuật đa mưu, túc trí của người tinh tường binh pháp Bãi hạp chi thuật; Sơ nhi bất lậu (tuyệt đối bí mật) của Quỷ Cốc tiên sinh Bảy hai quan tài thắm – Bảy hai chiếc bình đồng – Gửi vào lòng đất mẹ - Di hài bậc thánh nhân.
Vòng loa thành thứ 3 là Kiếp Bạc và Đức Thánh Trần vào cõi tâm linh, lại một lần chi tiết sử thi, thần thoại được miêu thuật đến bốn dòng thơ rất đại chúng mà siêu phàm, kỳ diệu, tập trung cao sáng tạo dân gian Người đã rời hạ giới – Lên cõi thiêng nhà trời – Để lại vầng trăng sáng – Cho vua, dân muôn đời. Riêng cụm từ Cho vua, dân muôn đời không chuẩn về nghĩa đen, chứng tỏ có lúc Lê Trọng Anh cũng nệ vần mà không tỉnh về ý. Các khổ thơ tiếp theo miêu thuật hào quang tâm linh của Đức Thánh trong dân tộc với số đền thờ nhều vô kể từ Nam chí Bắc. Lễ hội ở Kiếp Bạc và nhiều nơi thành quốc lễ, trên sông lễ rước thủy, trên bộ kiệu rồng rước Đức Thánh, tác giả không quên ghi cả lễ hầu bóng ở nội đền. Ở đó không chỉ có uy vũ với quân ngoại xâm. Nếu Lê Trọng Anh khơi lại truyền thuyết chiếc khánh đá cứ có giặc xâm phạm ngoài biên ải là khánh đá tự kêu, hay các đồn lửa theo ngũ hành sơn mà truyền đến Nam Tào, Bắc Đẩu…thì uy vũ trước giặc ngoại xâm càng đậm. Ở trong đền còn uy vũ trong thời bình Người người xin Phù Ấn – Trừ tà thuật, quái ma – Tấm lụa in gươm ấn – Treo trên cửa mỗi nhà. Và nhất hạng là, người như nêm vào đền để Phủi sạch lòng trần tục – Tâm thanh thoát dạ ngay – Cầu Ngài ban tài lộc – Học tâm đức của Ngài.
Qua ba vòng Loa Thành, Lê Trọng Anh miêu tả thành công sự hóa thân linh diệu của hình tượng Đức Thánh Trần trong đời sống dân tộc, không phải vị anh hùng nào khi đã thác mà non chục thế kỷ qua vẫn sống với đời, với dân tộc và trong lòng nhân dân như thế. Hữu xạ tự nhiên hương, chúng ta tin chủ đề tư tưởng ấy của Lê Trọng Anh là chuẩn, phô diễn nôm na theo kiểu chiến trường ngắn gọn của thể thơ năm chữ mà chuyển tải được chủ đề trên là cấp độ nghệ thuật không thường, không phải là tác giả có mặt trong đội ngũ anh bộ đội cụ Hồ, chiến đấu xả thân vì nước, bước chân từng trải dọc, ngang khắp mọi miền Tổ quốc, không thể có tâm, có tầm, có tài để với tới một đề tài đòi hỏi trái tim phải trong sáng, trí tuệ phải sáng ngời, tâm hồn phải thuần Việt.
Kiếp Bạc bản hùng ca có thể và chắc chắn không phải là bản thảo duy nhất về Kiếp Bạc của Lê Trọng Anh. Nếu dựa vào sử liệu và dã sử, truyền thuyết, với trí tưởng tượng dồi dào, phong phú, các trường ca lớn ngàn câu thơ đa thể sẽ ra đời. Trong các bản thảo ấy biết đâu sẽ có kỷ lục thế vận hội kiểu I li át của Home, hay Côn Sơn ca. Mừng cho Lê Trọng Anh và mong ở nhà thơ Lê Trọng Anh.
Hồ Pha Lê